Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh Nghiệm Xin Việc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh Nghiệm Xin Việc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 8 tháng 12, 2016

Vì sao kích cầu du lịch lại cần sự đồng bộ?

Ngoài giá máy bay, giá dịch vụ du lịch tại điểm đến ở các địa phương cũng giảm đã giúp giá tour kích cầu trọn gói giảm thêm 12-15% so với năm 2012 (giá tour năm 2012 giảm 20-30%). Chương trình đã giúp giá các tour du lịch nội địa thấp hơn nhiều so với giá các tour đi các nước Đông Nam Á, xóa nghịch lý "du lịch nước ngoài rẻ hơn du lịch nội địa" đã diễn ra nhiều năm qua.
Khách có tăng
Chương trình kích cầu du lịch nội địa năm 2013 do Hiệp hội Du lịch TP.HCM (HTA) và Hãng Hàng không Quốc gia Việt Nam (VNA) tổ chức tại TP.HCM đã triển khai sớm hơn so với những năm trước, bắt đầu từ ngày 1/4 đến 31/12.
Theo chương trình, VNA áp dụng giá kích cầu dành cho các doanh nghiệp lữ hành tham gia chương trình với mức giảm 38%-52% tùy tuyến bay và hạng vé trên các đường bay TP.HCM đi Đà Nẵng, Hà Nội, Hải Phòng, Nha Trang và Phú Quốc.
Ngoài giá máy bay, giá dịch vụ du lịch tại điểm đến ở các địa phương cũng giảm đã giúp giá tour kích cầu trọn gói giảm thêm 12-15% so với năm 2012 (giá tour năm 2012 giảm 20-30%). Chương trình đã giúp giá các tour du lịch nội địa thấp hơn nhiều so với giá các tour đi các nước Đông Nam Á, xóa nghịch lý "du lịch nước ngoài rẻ hơn du lịch nội địa" đã diễn ra nhiều năm qua.
Trong đó, tour miền Bắc 4 ngày giá còn khoảng 6 triệu đồng; tour Hạ Long - Sapa 6 ngày 5 đêm giá khoảng 8 triệu đồng, tour khám phá miền Trung 5 ngày 4 đêm gần 6 triệu đồng...
Điều đáng nói là sau hai tháng hợp tác với VNA để bán tour trọn gói giảm giá, nhóm doanh nghiệp du lịch tham gia chương trình kích cầu 2013 đã bán được 4.588 khách, tăng gấp 7 lần so với cùng kỳ năm ngoái.
Ông Trần Thế Dũng, Phó trưởng Nhóm Khuyến mãi kích cầu du lịch nội địa, cho biết, thực tế số khách mua tour khuyến mãi còn nhiều hơn nữa vì số liệu trên mới ghi nhận từ 11 trong 12 công ty được mua vé máy bay khuyến mãi của VNA để bán tour kích cầu.
"Ngày càng nhiều người đắn đo về giá khi mua tour, muốn mua tour có giá rẻ hơn nên những tour kích cầu đã đáp ứng được nhu cầu này. Số lượng đặt chỗ trong dịp hè này cũng rất tốt", ông Dũng nói.
Tuy lượng khách mua tour tăng nhưng vẫn có những trục trặc vì không được triển khai đồng bộ. Chẳng hạn như chương trình "Kích cầu du lịch nội địa" tại TP.HCM chỉ có HTA và Nhóm Khuyến mãi đứng ra làm.
Theo các doanh nghiệp, do nhiều nơi không nhận được sự hỗ trợ từ Tổng cục Du lịch nên các đơn vị cung ứng của các tỉnh-thành thường đứng ngoài cuộc, hoặc có tham gia nhưng theo kiểu "tát nước theo mưa".
Một số khác thì tham gia theo kiểu hình thức, nếu không muốn nói là... lừa. Vì vậy, việc giảm giá giữa các đơn vị, các địa phương không được thực hiện một cách đồng bộ nên thực tế các đơn vị lữ hành rất khó khăn khi triển khai các gói khuyến mãi, với nhiều ưu đãi cho du khách.
Giá chưa giảm nhiều
Ngoài việc giảm giá để thu hút khách, mới đây, Tổng cục Du lịch đã khai trương trang web về kích cầu du lịch. Tuy nhiên, theo đánh giá của nhiều doanh nghiệp, chương trình không mấy ấn tượng vì năm nay sức mua tour thấp do kinh tế khó khăn, quảng bá muộn, lại không có gì mới so với các năm trước.
Hơn nữa, chương trình kích cầu năm nay do Tổng cục Du lịch phát động vừa chậm lại vừa không hợp lý bởi thời điểm kêu gọi các doanh nghiệp hưởng ứng giảm giá chỉ nhắm vào mùa thấp điểm.
Trong khi đó các hãng hàng không, HTA, những nhóm khuyến mãi ở Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng đã khởi động từ đầu năm. Vì thế, các đơn vị lữ hành không thể giảm giá sâu hơn khi những doanh nghiệp cung ứng dịch vụ đều có cớ để bất hợp tác.
Phát biểu tại hội nghị kích cầu du lịch mới đây, ông Phan Đình Huê, Giám đốc Công ty Du lịch Vòng Tròn Việt, cho rằng, chính việc giảm giá giữa các đơn vị, các địa phương không được thực hiện một cách đồng bộ nên các đơn vị lữ hành rất khó khăn khi triển khai các gói khuyến mãi với nhiều ưu đãi sâu cho du khách.
"Nếu các nhà cung ứng dịch vụ không giảm giá hoặc giảm giá hình thức thì đơn vị lữ hành cũng khó có thể giảm giá sâu được", ông Huê phân tích.
Không chỉ bất cập trong việc triển khai, thời gian qua, dư luận cho rằng, các chương trình khuyến mãi ảo nhiều hơn thật! Bởi, trên thực tế, đã có nhiều công ty đổi giờ bay để cắt bớt bữa ăn, điểm tham quan, bán vé phụ thu... nhằm tăng lợi nhuận.
Và thị trường vẫn tồn tại nhiều hình thức du lịch giảm giá, vì thế, khách du lịch rất khó xác định đâu là giảm giá kích cầu thật sự, đâu là giảm theo kiểu tát nước theo mưa. Trước dư luận này, đã có nhiều cuộc họp giữa VNA, Hiệp hội Du lịch, công ty lữ hành... nhằm cải thiện giờ bay để tránh sự hiểu nhầm và thiệt thòi về phía du khách.
"Nhưng cũng cần thông cảm với VNA bởi họ không thể dành tất cả những chuyến bay giờ đẹp để kinh doanh giá rẻ, cũng không thể thỏa mãn được đơn đặt hàng của tất cả các hãng lữ hành", ông Dũng chia sẻ.
Theo phân tích của các nhà kinh doanh du lịch, hiện nay, giá vẻ chỉ chiếm khoảng 33% trong giá tour trọn gói. Vì vậy, các hãng lữ hành phải cắt bớt lợi nhuận ít nhất 8% vừa để giám giá sâu cạnh tranh thu hút khách, vừa để thực hiện cam kết với VNA.
"Sản phẩm du lịch của từng thành viên trong nhóm khuyến mãi vốn không giống nhau, lại chọn đối tác cung ứng dịch vụ cũng khác nhau nên giá tour sẽ có khoảng cách. Vì vậy, rất khó kiểm soát giá cả. Tuy nhiên, mặt bằng giá hiện nay giữa công ty du lịch không chênh lệch nhiều vì họ phải tự điều chỉnh để cạnh tranh", ông Dũng khẳng định.
Để giải quyết những vướng mắc này nhằm mang đến chất lượng tour tốt nhất với giá thấp nhất, nhiều doanh nghiệp đề nghị chương trình nên được hỗ trợ từ phía nhà nước như giảm thuế VAT, thuế thu nhập doanh nghiệp tương tự chương trình "Ấn tượng Việt Nam 2009".
Đề xuất là vậy nhưng hiện nay, HTA và Nhóm Khuyến mãi vẫn kiên trì vận động các hiệp hội du lịch địa phương hưởng ứng giảm giá, đồng thời với việc tổ chức nhiều đoàn famtrip khảo sát tour mới kết hợp ký kết hợp tác kích cầu. Với những hoạt động này, hy vọng thời gian sắp tới giá tour nội địa sẽ giảm sâu hơn.

Tìm hiểu về gọng kìm hàng giả – hàng nhái

Chứng kiến cảnh người của công ty Liêu Thanh mở từng lớp vải của sản phẩm toàn nhãn mác chữ Nhật, chỉ ra đúng những dấu hiệu mà chỉ có riêng nhà sản xuất mới nhận diện được thì chị tiểu thương mới “hết hồn”: “Cái này bán chạy lắm, cứ tưởng hàng Nhật, đâu có dè là hàng Việt Nam bị làm giả đâu… Hàng này được quá mà tụi tôi cứ không “cập nhật” nên lâu nay bị lừa oan mạng”.
“Người tiêu dùng phải bắt đầu thấy bất bình, phẫn nộ với hàng giả – hàng nhái vì như vậy là lừa đảo thô bạo, là góp phần làm suy giảm sức khoẻ của nền kinh tế và không công bằng với nhà sản xuất” – một chuyên gia kinh tế thở dài... Chưa bao giờ, tình trạng hàng giả, hàng nhái lại bủa vây và hà hiếp doanh nghiệp Việt như hiện nay.
Thập diện mai phục
Ít có trường hợp nào mà hàng giả và hàng nhái bủa vây doanh nghiệp với tần suất lớn như trường hợp các công ty may của Việt Nam: Việt Tiến, Phong Phú, Hanosimex... Ông Phan Văn Kiệt, phó tổng giám đốc công ty may Việt Tiến, bức xúc:
Hàng loạt doanh nghiệp Việt làm ăn uy tín hàng ngày vẫn phải chịu sức ép của hàng giả, hàng nhái.
“Chúng tôi mất hàng chục năm công sức để gầy dựng thương hiệu, tốn cả ngàn giờ làm việc để tạo ra mẫu mã, với những “phom mẫu” có kích thước phù hợp với người tiêu dùng, nhưng người ta chỉ mất có một vài ngày để làm giả và dựa vào tên của Việt Tiến để kiếm lợi nhuận một cách bất hợp pháp. Không chỉ là thiệt hại về tiền cho chúng tôi, mà còn là một lo ngại rất lớn đối với sức khoẻ người tiêu dùng vì gần đây, các thông tin về hoá chất nhuộm vải độc hại... thật đáng báo động”.
Nhiều doanh nghiệp Việt Nam nêu vấn đề: vì sao các nhãn hiệu lớn của thế giới như Louis Vuitton, Honda… có thể mở chiến dịch thẳng thừng truy bắt các cơ sở làm giả hàng của họ ở Sài Gòn, Hà Nội đến tận hang ổ mà doanh nghiệp Việt Nam thì cử người đi theo bọn làm hàng giả tận nơi, vẫn không “bắt tận tay day tận mặt” chúng được?
Một khảo sát nhanh của trung tâm Nghiên cứu kinh doanh và hỗ trợ doanh nghiệp BSA cuối tháng 7/2013 với 60 doanh nghiệp bị hàng giả “nhũng nhiễu” nhiều nhất, cũng đều “than trời” khi nói về tình trạng này. “Riết rồi chúng tôi cũng hết sức e dè khi giới thiệu sản phẩm mới, vì ra mới cực lắm, nhưng vừa được thị trường chấp nhận thì lập tức có hàng giả hàng nhái liền” – một doanh nghiệp ngành nhựa cảm thán...
Hàng Việt bị giả thành hàng… Nhật!
Có một chuyện vui rất bất ngờ trong chuyến giao lưu giữa đại sứ hàng Việt – tiểu thương và doanh nghiệp hàng Việt Nam chất lượng cao tại Nha Trang vừa qua, là trường hợp hàng Việt bị “làm giả ngược”.
Đó là trường hợp công ty Liêu Thanh – một doanh nghiệp sản xuất trang phục lót khi vào chợ, đến thăm tại sạp hàng để giới thiệu hàng hoá với tiểu thương cùng NSUT Tạ Minh Tâm, Quang Thảo thì phát hiện sản phẩm của mình đang bán tại chợ dưới nhãn made in Japan! Chị Tô Hoa Hồng Điệp, chủ của thương hiệu Jovial này cho biết:
“Thật sự cũng dở khóc dở cười. Hàng mình tốt thì mới bị giả thành hàng Nhật, nhưng giải thích sao, bà con tiểu thương cũng không chịu tin. Mình thì không được lợi gì mà người tiêu dùng thì lại bị lừa...”.
Chứng kiến cảnh người của công ty Liêu Thanh mở từng lớp vải của sản phẩm toàn nhãn mác chữ Nhật, chỉ ra đúng những dấu hiệu mà chỉ có riêng nhà sản xuất mới nhận diện được thì chị tiểu thương mới “hết hồn”: “Cái này bán chạy lắm, cứ tưởng hàng Nhật, đâu có dè là hàng Việt Nam bị làm giả đâu… Hàng này được quá mà tụi tôi cứ không “cập nhật” nên lâu nay bị lừa oan mạng”.
Vào đến Tiền Giang, ra chợ, chị Hồng Điệp cũng gặp cảnh tình vui mà mếu như vậy. Chị nói với ban tổ chức phiên chợ, thực ra mình lo làm sản phẩm cho thiệt là tốt mà không có điều kiện đầu tư cho khâu truyền thông rộng rãi về chất lượng sản phẩm nên bị những người xấu lợi dụng sự dễ tin của người tiêu dùng mà trục lợi.
Thời buổi khó ghê, sản xuất hàng tốt không đủ, còn phải tiếp thị mạnh nữa, mà doanh nghiệp Việt thì nghèo, nên sắp tới, hội phải tổ chức nhiều chuyến đi giao lưu hơn nữa nhé…
Một câu chuyện khác cũng thú vị không kém do ông Nguyễn Lâm Viên, tổng giám đốc công ty Vinamit kể lại:
“Đến gặp một nhà phân phối của siêu thị Walmart của Trung Quốc, họ rất hồ hởi thông báo là sản phẩm trái cây sấy bán rất chạy. Mình hơi ngạc nhiên vì nhiều năm nay chỉ mới tập trung sản phẩm chủ lực là mít sấy. Cuối cùng phát hiện ra toàn bộ sản phẩm trái cây sấy mà siêu thị khen mình là do một công ty của Trung Quốc làm giả. Làm việc với luật sư, với cơ quan quản lý thị trường, đủ mọi bằng chứng, giấy tờ mang ra mới tìm lại được vị trí của mình đang bị đánh mất”.
Vậy mới hay, việc hàng nước ngoài nhái hàng Việt không chỉ xuất hiện ở thị trường trong nước mà ở nhiều nơi khác tình trạng này cũng không phải là không có.
Đi tìm một tiếng nói chung
Chạm đến hàng giả, hàng nhái và vấn đề sở hữu trí tuệ chính là chạm vào nỗi niềm của đại đa số doanh nghiệp Việt. Hàng loạt đề xuất, ý kiến về các chương trình truyền thông, các hoạt động phối hợp được doanh nghiệp khẩn trương nêu ra cho hội Doanh nghiệp hàng Việt Nam chất lượng cao.
Thậm chí không ít ý kiến muốn việc góp sức cùng cơ quan chức năng là điều doanh nghiệp nên được làm chính thức, để xã hội hoá chuyện bắt kẻ gian giữa chốn thiên la địa võng này.

Cùng tìm hiểu về doanh nghiệp Việt và tham vọng 1 tỷ đô

Với HSG, bài toán cũng nan giải. HSG đang đa dạng hóa thị trường để hội tụ điều kiện đủ thực hiện mục tiêu doanh thu 1 tỷ USD. ASEAN là thị trường xuất khẩu lớn của HSG, song các sản phẩm của HSG đang đối mặt với các rào cản thương mại từ Thái Lan và Malaysia, trong khi đó, Indonesia cũng đang tiến hành điều tra nhằm áp dụng biện pháp tự vệ thương mại với mặt hàng tôn nhập khẩu của HSG.
Bất chấp giai đoạn khó khăn của nền kinh tế, nhiều doanh nghiệp đang đặt ra mục tiêu tham vọng hơn: vươn đến doanh thu 1 tỷ USD.
Thủy sản Hùng Vương, Tôn Hoa Sen, Cà phê Trung Nguyên… là những doanh nghiệp nuôi tham vọng vượt lên trong cuộc chơi đầy thách thức này – cán mốc doanh số 1 tỉ USD.
Bồi đắp giá trị bằng M&A
Đến năm 2015, Công ty cổ phần Thủy sản Hùng Vương (HVG) phấn đấu sẽ chiếm 30% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu của ngành thủy sản (khoảng 3 tỷ USD), đồng nghĩa với việc đạt được doanh thu 1 tỷ USD cho đơn vị mình.
Cơ sở để công ty này tự tin là chiến lược xây dựng chuỗi khép kín bằng các thương vụ M&A. Ngay từ năm 2010, HVG đã mua Công ty Xuất nhập khẩu Thủy sản An Giang (AGF) và hiện đã sở hữu 51,08% doanh nghiệp này, qua đó hưởng lợi từ hệ thống nhà máy chế biến, diện tích nuôi trồng thủy sản và cả thị trường xuất khẩu ở châu Âu và Mỹ của AGF.
Điều này đã phát huy tác dụng khi HVG bị áp mức thuế 7,7 cent/kg trong khi AGF chỉ phải chịu mức thuế xuất khẩu sang thị trường Mỹ thấp hơn nhiều, 2 cent/kg.
Chưa dừng tại đó, HVG đã mua lại nhà máy thức ăn chăn nuôi Việt Thắng, nắm tỉ lệ sở hữu 55,31% để rồi biến đơn vị sản xuất này thành công ty con của mình – một mắt xích quan trọng giúp HVG chủ động được nguyên liệu thức ăn đầu vào, tiết kiệm chi phí, kiểm soát được các chất cấm mà phía nhà xuất khẩu đặt ra đối với sản phẩm thủy sản nhập vào nước họ.
Để cán mốc 1 tỷ USD, HVG còn đặt chân vào lãnh địa nuôi tôm xuất khẩu. Cũng khởi đầu bằng việc mua Công ty Lâm thủy sản Bến Tre (FBT), HVG đã khai thác ngay được 500 ha nuôi tôm của đơn vị này, chưa kể được hưởng lợi nhờ quy trình khép kín từ sản xuất con giống, nuôi, chăm sóc đến chế biến mà FBT đã xây dựng trước đó.
Gần đây nhất, HVG mua thêm 5 triệu cổ phần của Công ty Thực phẩm Sao Ta (FMC), nâng tỷ lệ sở hữu tại đây lên 38,46%. FMC đang có 170 ha ao nuôi tôm và 90% đầu ra xuất khẩu chủ yếu cho hai thị trường Hoa Kỳ và Nhật Bản. Mục tiêu của HVG là sẽ trở thành cổ đông chiến lược của FMC để tiếp tục mở rộng hoạt động nuôi trồng, chế biến và xuất khẩu thủy sản.
Nếu nhìn lại toàn bộ động thái mua các doanh nghiệp của HVG thì thấy rằng, công ty đang vươn đến mục tiêu dần hoàn thiện chuỗi khép kín sản xuất thủy sản với quy mô lớn.
Tập trung vào ngành cốt lõi
Cũng cùng tham vọng như vậy, mới đây trong một buổi trò chuyện với Doanh Nhân, ông Lê Phước Vũ thẳng thắn tuyên bố sẽ đưa Tập đoàn Hoa Sen (HSG) lên đỉnh cao mới.
Cụ thể, giai đoạn 2016-2018, HSG lập kế hoạch sẽ cán mốc doanh thu 1 tỷ USD. Trong ngành sản xuất thép, sự phát triển của một doanh nghiệp thể hiện ở sự gia tăng về quy mô, đổi mới công nghệ và kiểm soát rủi ro.
Ba yếu tố này, HSG đều tỏ ra rất chắc chắn. Ra đời từ năm 2001, nhưng chưa đầy 8 năm sau công ty đã đứng đầu về thị phần trên thị trường tôn mạ màu nhờ xây dựng được quy trình sản xuất khép kín: sản xuất tôn – thép cán nguội, thép cán nóng, thép cán nguội dạng cuộn, tôn mạ…
HSG cũng liên tục cập nhật thị trường, kiểm soát rủi ro, giảm thiểu chi phí tồn kho cũng như ảnh hưởng của việc biến động giá nguyên vật liệu, áp dụng phương thức quản trị mới như chuỗi cung ứng theo mô hình “vừa đúng lúc” (just in time)…
Tương tự như Hoa Sen Group, Trung Nguyên cũng đang quyết dẫn đầu với sản phẩm cà phê. Năm 2013, Trung Nguyên xác định coi Đông Nam Á là “thị trường nội địa” và sẽ đặt chân vào nước Mỹ bằng việc mua lại một số nhà máy rang xay cà phê ở Mỹ, đồng thời mở cửa hàng ở một số thành phố như Seattle, New York, Boston.
Cơ sở để Trung Nguyên tự tin là doanh thu năm 2012 đạt 200 triệu USD, tăng 32% so với năm 2011. Dự kiến doanh thu năm 2013 sẽ tăng gấp đôi năm 2012, do nhu cầu cà phê đóng gói ở các nước trong khu vực Đông Nam Á, Trung Quốc tăng mạnh. Nếu duy trì đà tăng trưởng này, ước tính năm 2016, Trung Nguyên sẽ vươn đến mục tiêu đạt doanh thu 1 tỷ USD.
Những thách thức trên đường đua
Các doanh nghiệp muốn tiến đến doanh thu 1 tỷ USD đều phải hướng đến thị trường xuất khẩu, do dung lượng thị trường nội địa còn hạn chế. Tuy nhiên, mọi việc không dễ dàng.
Theo một chuyên gia trong ngành thủy sản, xuất khẩu thủy sản hiện nay đang gặp rất nhiều rào cản từ các thị trường nhập khẩu như Mỹ, Nhật, châu Âu…
Trong khi đó, các công ty thủy sản lớn đang vất vả đối phó với tình trạng bán phá giá của các doanh nghiệp nhỏ, điều này khiến họ chịu sự ép giảm giá từ phía nhà nhập khẩu nước ngoài, đồng nghĩa với việc lợi nhuận cũng có thể giảm xuống.
Với HSG, bài toán cũng nan giải. HSG đang đa dạng hóa thị trường để hội tụ điều kiện đủ thực hiện mục tiêu doanh thu 1 tỷ USD. ASEAN là thị trường xuất khẩu lớn của HSG, song các sản phẩm của HSG đang đối mặt với các rào cản thương mại từ Thái Lan và Malaysia, trong khi đó, Indonesia cũng đang tiến hành điều tra nhằm áp dụng biện pháp tự vệ thương mại với mặt hàng tôn nhập khẩu của HSG.
Ở thị trường nội địa, HSG cũng vấp phải sự cạnh tranh quyết liệt từ các nhà sản xuất khác như: Hòa Phát, Tôn Phương Nam, Lilama Hà Nội…
Ngoài ra, HSG cũng phải lo ngại với sự cạnh tranh từ Dự án Khu Liên hợp gang thép Formosa của Tập Đoàn Formosa (Đài Loan) tại Khu kinh tế Vũng Áng, (Hà Tĩnh), một dự án nhà máy luyện quặng thép và sản xuất thép cán nóng.
Đó là nguyên liệu đầu vào của Tập đoàn Hoa Sen. Chưa kể xu hướng giảm giá nguyên vật liệu khiến việc giải tỏa hàng tồn kho để đảm bảo lợi nhuận đang trở nên khó khăn hơn.
Tương tự, tham vọng vươn ra thị trường nước ngoài của Trung Nguyên không phải mới đặt ra mà có từ rất lâu. Trung Nguyên đã triển khai các cửa hàng nhượng quyền tại nhiều nước, nhưng cũng vấp phải sự khác biệt về văn hóa, khẩu vị và sức ép cạnh tranh từ các đối thủ khác.
“Sân” Mỹ xem ra không dễ chinh phục như “sân nhà”. Bước ra khỏi Việt Nam, cà phê hòa tan của Trung Nguyên còn gặp đối thủ truyền kiếp là Nestcafe. Chẳng thế mà mới đây Trung Nguyên buộc phải tìm kiếm đối tác để bán bớt 15% cổ phần lấy vốn kinh doanh.
Rõ ràng đường đến đích tỷ đô không bao giờ là dễ dàng.

Khám phá lí do: Hai đại gia bột mì kiện nhau vì .... "bụi tre"

Ông Trương Đình Hòe, Tổng thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam cho biết, hầu hết doanh nghiệp ngành thủy sản xuất khẩu theo mẫu mã, bao bì của khách, trên đó ghi rõ là sản xuất tại công ty nào ở Việt Nam, tên đơn vị nhập khẩu… Như vậy, nếu có xảy ra tranh chấp gì liên quan đến thương hiệu tại thị trường xuất khẩu thì đơn vị đứng ra đặt hàng, nhập khẩu sẽ phải chịu trách nhiệm, doanh nghiệp Việt không dính dáng gì. 
Hai công ty thuộc hàng đại gia trong ngành sản xuất thực phẩm từ tinh bột, bột mì đều bị kiện vì xuất khẩu bánh tráng nhái nhãn hiệu công ty khác sang Mỹ. Thực tế này cho thấy, hầu hết các doanh nghiệp Việt ít chú trọng vấn đề sở hữu trí tuệ và phòng vệ thương mại.
Gian nan kiện… bụi tre
Công ty TNHH Sản xuất nông thủy sản xuất khẩu Thuận Phong (Tufoco) ở Tiền Giang đã đăng ký và được Cục Sở hữu trí tuệ tại Việt Nam và Hoa Kỳ cấp chứng nhận bảo hộ độc quyền tổng thể nhãn hiệu hàng hóa, bao gồm hình và chữ ba cây tre và các dòng chữ: đặc biệt dùng làm gỏi cuốn và chả giò Việt Nam (Vietnamese rice paper) và chữ Hán cho sản phẩm bánh tráng.
Qua các đại lý bán hàng ở Mỹ, Tufoco phát hiện Công ty cổ phần Lương thực Thực phẩm Safoco (Safoco) TP.HCM và Công ty Lương thực Tiền Giang (Tigifood) cũng xuất khẩu bánh tráng mang nhãn hiệu Bụi tre và hình “ba cây tre” bán tại siêu thị SF Superstore (Thuận Phát) tại Mỹ với mẫu mã bao bì gần như trùng lặp với Tufoco, trên bao bì còn sử dụng dấu hiệu ® (nhãn hiệu đã được đăng ký bảo hộ - Registered).
Ông Mai Văn Nước - Phó Giám đốc Tufoco cho biết, vì Safoco và Tigifood đã sử dụng bao bì gây nhầm lẫn với bao bì sản phẩm đã được bảo hộ của Tufoco, vi phạm luật sở hữu trí tuệ nên tháng 9/2009 Tufoco đã gửi công văn yêu cầu Safoco chấm dứt sản xuất kinh doanh sản phẩm bánh tráng mang nhãn hiệu Bụi tre và hình ba cây tre, đồng thời thu hồi sản phẩm này tại thị trường Hoa Kỳ. Tuy nhiên, Safoco đã không thực hiện theo những đề nghị của Tufoco, buộc Tufoco phải phát đơn kiện ra tòa.
Năm 2010, Tufoco cũng phát hiện Công ty Tigifood xuất khẩu sản phẩm nhái nhãn hiệu “ba cây tre”. Phía Tigifood trả lời rằng, đó là sản phẩm gia công, được đóng gói theo kiểu dáng, bao bì, nhãn hiệu… do khách hàng cung cấp, nhãn hiệu cũng không hoàn toàn giống nhãn hiệu của Tufoco nên Tigifood không vi phạm luật. Tufoco khởi kiện, ngày 28/9/2010, Tòa Phúc thẩm TAND TP.HCM đã xử Tigifood phải bồi thường cho Tufoco hơn 153 triệu đồng.
Trong thời gian Tufoco nộp đơn kiện Safoco tại Việt Nam thì cũng đồng thời khởi kiện hệ thống siêu thị SF Superstore tại Mỹ về việc nhập khẩu và tiêu thụ bánh tráng nhái nhãn hiệu ba cây tre của Tufoco. Tòa án Liên bang Hoa Kỳ tại California đã xử hệ thống siêu thị SF Superstore bồi thường cho Tufoco 60.000 USD và cung cấp các chứng từ nhập lô hàng nhái nhãn hiệu ba cây tre từ Safoco, trong đó ghi rõ tên sản phẩm là “bánh tráng bụi tre” của Safoco.
Có bồi thường mới nhớ?
Theo các luật sư, nếu loại trừ động cơ cố tình “lập lờ đánh lận con đen”, làm nhái nhãn hiệu để cạnh tranh không lành mạnh và gây tổn hại đến thương hiệu của doanh nghiệp Việt tại thị trường nước ngoài, việc làm giả nhãn hiệu trong 2 vụ kiện trên có thể xuất phát từ thực tế doanh nghiệp thiếu hiểu biết: suy nghĩ đơn giản rằng, doanh nghiệp mình chỉ gia công sản phẩm, đóng gói theo mẫu mã, qui cách khách hàng yêu cầu và sản phẩm không mang mẫu mã, thương hiệu của doanh nghiệp mình nên không vi phạm sở hữu trí tuệ.
Thực tế hiện nay, không chỉ trong lĩnh vực xuất khẩu nông sản thực phẩm mà hầu hết các ngành xuất khẩu của Việt Nam đều phụ thuộc gần như hoàn toàn vào việc gia công, làm hàng theo mẫu mã bao bì, nhãn mác của khách hàng.
Qua tìm hiểu được biết, nhiều doanh nghiệp còn khá thờ ơ với việc tự bảo vệ mình tránh khỏi những rắc rối liên quan đến sở hữu trí tuệ trong sân chơi toàn cầu. Tâm lý chung của các doanh nghiệp, hiệp hội cho rằng, mình chỉ làm theo đặt hàng của khách, nếu xảy ra tranh chấp gì về thương hiệu thì đơn vị đặt hàng phía nước ngoài phải chịu trách nhiệm, doanh nghiệp mình vô can.
Ông Trương Đình Hòe, Tổng thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam cho biết, hầu hết doanh nghiệp ngành thủy sản xuất khẩu theo mẫu mã, bao bì của khách, trên đó ghi rõ là sản xuất tại công ty nào ở Việt Nam, tên đơn vị nhập khẩu… Như vậy, nếu có xảy ra tranh chấp gì liên quan đến thương hiệu tại thị trường xuất khẩu thì đơn vị đứng ra đặt hàng, nhập khẩu sẽ phải chịu trách nhiệm, doanh nghiệp Việt không dính dáng gì. 
Tuy nhiên, luật sư Trần Công Ly Tao, Đoàn Luật sư TP.HCM cho rằng, doanh nghiệp không thể đưa ra lập luận "chỉ gia công theo đặt hàng của đơn vị khác nên không có liên quan" mà phải chịu trách nhiệm theo đúng qui định pháp luật. Hai vụ kiện nêu trên cũng là bài học chung cho các doanh nghiệp Việt Nam.
Nhất là trong bối cảnh Việt Nam hội nhập sâu rộng vào kinh tế toàn cầu, vấn đề sở hữu trí tuệ, phòng vệ thương mại càng quan trọng. Doanh nghiệp không nên chủ quan mà cần tìm hiểu kỹ luật, cẩn trọng kiểm tra kỹ pháp nhân của khách hàng, tính hợp pháp của các mẫu mã bao bì, qui cách sản phẩm… trước khi ký hợp đồng gia công để tránh những rắc rối, kiện tụng liên quan đến làm nhái, làm giả nhãn hiệu.
Thương hiệu dễ mất, khó đòi
Theo các luật sư, doanh nghiệp cần chú ý bảo vệ thương hiệu của mình tại các thị trường xuất khẩu. Việc bảo hộ nhãn hiệu ở nước ngoài vô cùng quan trọng, nhưng chưa được doanh nghiệp quan tâm đúng mức. Hậu quả là nhiều thương hiệu Việt nổi tiếng bị nước ngoài “đánh cắp”. Trong đó, chỉ một số ít trường hợp đòi lại thành công, đa phần là chấp nhận mất trắng. Một khi thương hiệu đã bị đánh cắp, doanh nghiệp mất rất nhiều thời gian, công sức, tiền của để theo đuổi các vụ kiện, nhưng không nhiều trường hợp thành công. Vì vậy, việc đăng ký bảo hộ độc quyền ở nước ngoài không được chậm trễ, thậm chí doanh nghiệp cần phải tự vệ bằng cách sử dụng các dịch vụ theo dõi thị trường để kịp thời phát hiện có đơn vị làm nhái, giả hoặc đăng ký độc quyền nhãn hiệu của mình và có biện pháp ngăn chặn hữu hiệu.

Tìm hiểu về việc Nestlé báo lỗ hàng chục triệu USD tại Việt Nam

Trước Nestlé, một số doanh nghiệp FDI cũng thường xuyên báo lỗ như Coca Cola, Adidas… Đây cũng là tình trạng phổ biến ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) khi báo cáo của Bộ Tài chính vào tháng 3/2013 cho hay, 50% doanh nghiệp FDI đang hoạt động báo lỗ, trong đó nhiều doanh nghiệp khai lỗ liên tục trong 3 năm.
Sau 15 năm hoạt động, đại gia thực phẩm - đồ uống Thụy Sĩ mới ghi nhận 4 năm có lãi. Trong khi đó, hãng lại vừa khánh thành thêm một nhà máy với số vốn đầu tư lên tới 250 triệu USD. 
Nestlé Việt Nam vừa khánh thành nhà máy mới dù lỗ trong nhiều năm
Báo Đầu tư dẫn nguồn từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho hay từ khi thành lập đến nay, công ty TNHH Nestlé Việt Nam lỗ hơn 30,8 triệu USD, tương đương 20% vốn chủ sở hữu.
Việc đại gia thực phẩm - đồ uống này báo lỗ không khỏi gây bất ngờ sau khi hãng vừa có động thái mở rộng hoạt động kinh doanh tại Viêt Nam với việc khánh thành nhà máy trị giá gần 250 triệu USD tại Đồng Nai.
Theo báo cáo vừa được công bố đầu tháng 7 của Công ty nghiên cứu thị trường - Nielsen, Nestlé cũng đang dẫn đầu về doanh số trên thị trường cà phê hòa tan của Việt Nam.
Kết quả này cũng gây ra nhiều nghi ngờ về khả năng doanh nghiệp lỗ do chuyển giá (chuyển lợi nhuận về công ty mẹ ở nước ngoài), tương tự nhiều "nghi án" đối với các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam thời gian qua.
Trao đổi với P.V xung quanh con số này, ông Vũ Quốc Tuấn, Trưởng phòng Thông tin đối ngoại của Nestlé Việt Nam xác nhận nhận kết quả lỗ nhiều năm của công ty, song cũng cho biết con số được trích dẫn chưa thật sự chính xác.
"Chúng tôi đã kiểm tra và nhận thấy những thông tin nêu trên không khớp với những số liệu kê khai tại cơ quan thuế tỉnh Đồng Nai. Cụ thể, con số lỗ lũy kế là của năm 2012, không phải là tính đến nay", vị này cho hay.
Người đại diện này cũng cho biết, kể từ khi nhà máy đầu tiên bắt đầu hoạt động vào năm 1999, tức đến nay gần 14 năm thì Nestlé mới có lãi ở Việt Nam được 4 năm (2007, 2008, 2011 và 2012). Tuy nhiên, ông Tuấn nhận định chuyện năm lãi, năm lỗ với một doanh nghiệp là “bình thường”.
“Xây dựng nhà máy đòi hỏi phải có thời gian khấu hao, nhất là những năm đầu tiên chưa phát triển. Trong thời gian nhà máy mới xây thì thường bị lỗ, sau đó dần dần khấu hao và thị trường phát triển hơn thì mới có lãi", ông Tuấn phát biểu.
Riêng đối với những nghi ngờ về chuyển giá, ông Tuấn khẳng định trong những năm có lãi, công ty đã nộp cho tỉnh Đồng Nai hàng chục tỷ đồng tiền thuế. Thậm chí, có năm công ty còn được UBND tỉnh Đồng Nai tặng bằng khen là doanh nghiệp "đã chấp hành tốt các chính sách thuế".
"Ngoài ra, việc đầu tư xây dựng nhà máy mới cũng được thực hiện trong giai đoạn Nestlé có lợi nhuận", ông Tuấn nhấn mạnh.
Chia sẻ về chiến lược tại Việt Nam, đại diện hãng khẳng định vẫn rất coi trọng thị trường này, vì đây là đất nước xuất khẩu cà phê lớn thứ hai thế giới sau Brazil, đứng đầu thế giới nếu chỉ tính cà phê robusta.
"Việc xây dựng nhà máy cà phê mới cũng phản ánh tầm nhìn dài hạn và mong muốn của Nestlé là được tạo thêm giá trị gia tăng cho cà phê Việt Nam trước khi xuất khẩu", ông nói.
Trước Nestlé, một số doanh nghiệp FDI cũng thường xuyên báo lỗ như Coca Cola, Adidas… Đây cũng là tình trạng phổ biến ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) khi báo cáo của Bộ Tài chính vào tháng 3/2013 cho hay, 50% doanh nghiệp FDI đang hoạt động báo lỗ, trong đó nhiều doanh nghiệp khai lỗ liên tục trong 3 năm.
Tình trạng doanh nghiệp FDI lỗ, đóng thuế thấp cũng được Bộ trưởng Bộ Kế hoạch & Đầu tư Bùi Quang Vinh cảnh báo nhiều lần trong các chương trình tọa đàm về thu hút FDI.
Thậm chí, trong chuyến làm việc với đại diện Tập đoàn Coca-Cola tại Mỹ tháng 7 vừa qua, Bộ trưởng đã nhắc nhở Coca-Cola phải thường xuyên cung cấp thông tin và minh bạch các hoạt động kinh doanh tại Việt Nam, góp phần thực hiện hiệu quả dự án và giữ đúng tiến độ cam kết đầu tư.
Nestlé - Tập đoàn thực phẩm của Thụy Sĩ có mặt tại Việt Nam từ năm 1912 thông qua đặt văn phòng kinh doanh tại TP.HCM. Đến năm 1995, công ty được Bộ Kế hoạch & Đầu tư cấp phép hoạt động tại Việt Nam với vốn đăng ký 25 triệu USD và 4 năm sau, nhà máy cà phê đầu tiên ra đời, đặt tại khu công nghiệp Biên Hòa 2, Đồng Nai.
Năm 2011, Nestlé tuyên bố đầu tư thêm một nhà máy chế biến cà phê mới tại khu công nghiệp Amata, Đồng Nai vốn đầu tư 230 triệu franc Thụy Sĩ (tương đương gần 250 triệu USD). Nhà máy này đã được khánh thành vào tháng 7/2013.

Thực hư câu chuyện Đồng Khánh ăn nhờ dĩ vãng

Nếu như Kinh Đô hay những hãng bánh lớn khác chọn phân khúc cao cấp, cho ra đời những sản phẩm có giá lên đến con số bạc triệu thì thương hiệu Đồng Khánh Bông Lúa Vàng chỉ nhắm tới phân khúc thị trường bình dân có giá từ 50.000-120.000/sản phẩm với hơn 100 loại bánh đầy đủ các hương vị.
Tích góp tiền bạc mở xưởng, ban đầu sản phẩm của cơ sở này chỉ là những chiếc bánh mì, bánh bông lan. Sau một thời gian học hỏi, ông quyết định thử sức với bánh trung thu.
Người đàn ông ấy là chú của bà Nguyễn Thị Thu Thủy, Giám đốc Điều hành Công ty Lương thực Thực phẩm Đồng Khánh, chủ sở hữu thương hiệu Đồng Khánh Bông Lúa Vàng ngày nay.
Thương hiệu lâu đời trong ngành bánh kẹo Việt Nam này từng có hơn 20 năm đứng ở vị trí số 1 trong lĩnh vực sản xuất bánh trung thu. Tuy nhiên, khi thị trường xuất hiện những đối thủ lớn cũng là lúc vị thế của họ suy giảm và phải dần nhường ngôi cho kẻ đến sau.
Nếu như Kinh Đô hay những hãng bánh lớn khác chọn phân khúc cao cấp, cho ra đời những sản phẩm có giá lên đến con số bạc triệu thì thương hiệu Đồng Khánh Bông Lúa Vàng chỉ nhắm tới phân khúc thị trường bình dân có giá từ 50.000-120.000/sản phẩm với hơn 100 loại bánh đầy đủ các hương vị.
Năm ngoái, sản lượng bánh trung thu Bông Lúa Vàng của Đồng Khánh đã mang về 30 tỉ đồng doanh thu. Cũng trong năm ngoái, Kinh Đô cung cấp ra thị trường 2.100 tấn bánh, Bibica 500 tấn trong tổng sản lượng toàn thị trường khoảng 6.000-7.000 tấn.
Bà Thủy cho biết do nền kinh tế tiếp tục khó khăn, khách hàng phải thắt lưng buộc bụng với ngay cả những mặt hàng thiết yếu nên Công ty sẽ không đẩy mạnh sản xuất. Ngược lại, nhiều doanh nghiệp có thị phần cao ở mảng này lại tỏ ra khá lạc quan.
Công ty Cổ phần Kinh Đô dự kiến năm nay tăng sản lượng bánh trung thu thêm 2.400 tấn vì cho rằng nhu cầu tiêu dùng sẽ tăng cao. Bibica cũng sẽ đưa ra thị trường 550 tấn sản phẩm, tăng 10% so với năm ngoái.
Theo các chuyên gia kinh tế dự báo, sức mua của thị trường năm 2013 sẽ tăng dù kinh tế còn khó khăn. Tuy nhiên, Đồng Khánh lại nghĩ khác.
Theo lãnh đạo Công ty, năm nay sẽ khó khăn hơn vì suy thoái kinh tế toàn cầu buộc khách hàng phải cắt giảm chi phí mua sắm. Ngoài ra, một số doanh nghiệp năm ngoái đặt bánh trung thu làm quà tặng nhân viên thì năm nay lại cho tiền.
Hiện tại do vẫn chưa biết được lượng khách hàng năm nay như thế nào nên họ sản xuất cầm chừng, làm đến đâu bán đến đó để tránh tồn đọng.
Không chỉ có vậy, câu chuyện nhiều cơ sở sản xuất bánh trung thu nhỏ lẻ mượn thương hiệu Đồng Khánh (chỉ khác ở cái tên đầu hoặc cuối) và được các đại lý nhập với giá rẻ bán trà trộn với sản phẩm Đồng Khánh Bông Lúa Vàng đã diễn ra nhiều năm nay.
Điều này gây nhiều sự nhầm lẫn cho khách hàng, đặc biệt là ở nông thôn đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín và ăn vào thị phần của chính chủ. Về vấn đề này, bà Thủy cho biết Đồng Khánh chấp nhận sống chung với lũ.
Đồng Khánh cho biết chiến lược quảng cáo, tạo dấu ấn cho khách hàng lại bị hạn chế do kinh phí nên hình ảnh nhãn hàng đang mờ nhạt theo thời gian.
Sản lượng thấp so với các hãng bánh lớn, lại bị ảnh hưởng bởi sản phẩm ăn theo nên để kích cầu, Đồng Khánh Bông Lúa Vàng đã chọn thêm cách bán qua mạng và liên kết với các trang thương mại điện tử.
Theo bà Thủy, đây là biện pháp tốt mà các thương hiệu mạnh hầu như không sử dụng. Ngoài bán lẻ, Đồng Khánh cũng có những hợp đồng sản xuất bánh trung thu cho các doanh nghiệp làm quà biếu nhân viên và đối tác.
Tâm lý ổn định, ngại mạo hiểm sợ thất bại của những doanh nghiệp vừa và nhỏ là điều dễ hiểu. Tuy nhiên, những người chủ của Đồng Khánh Bông Lúa Vàng sẽ phải nhớ lại bài học của nhiều thương hiệu Việt vang bóng một thời nhưng cuối cùng phải chấp nhận lùi cuộc chơi.
Thay vì đầu tư, tấn công giành thị trường, họ chọn con đường cầm cự để mong giữ được thị phần hiện có, nhờ vào cảm tình của người tiêu dùng. Nhưng luật chơi không dễ dàng như thế.
Dạ Lan, P/S ngày trước đều là những thương hiệu Việt lâu đời nhưng rồi rơi vào quên lãng khi các ông lớn lắm tiền nhiều của nhảy vào chia lại miếng bánh. Đồng Khánh chắc hiểu rõ điều đó. Nhưng có lẽ lực bất tòng tâm nên đành chấp nhận.
Còn hơn 1 tháng nữa mới đến Trung thu nhưng nhiều nhà sản xuất bánh đã khởi động chiến dịch. Trên các tuyến phố, băng rôn quảng cáo bắt mắt được giăng lên và bánh trung thu cũng đã được trưng bày tại nhiều gian hàng.
Như thông lệ, thời điểm này tuy còn khá sớm nhưng nhiều xưởng đã sản xuất bánh để đón đầu thị trường. Đồng Khánh cũng nhanh tay treo biển bày bán, với hy vọng vẫn còn nhiều người nhớ tới cái tên Đồng Khánh Bông Lúa Vàng - thương hiệu số 1 một thời.

Chia sẻ với bạn về thị trường bán lẻ: Thế chia ba

Trả lời báo giới cách đây chưa lâu, ông Philippe Bacac, Tổng giám đốc Công ty Metro Cash & Carry Việt Nam, cho biết, ngoài việc tiếp tục cung cấp tới khách hàng nhiều chủng loại mặt hàng thực phẩm và phi thực phẩm đa dạng, giá cả cạnh tranh, với mục tiêu "hỗ trợ khách hàng chuyên nghiệp kinh doanh thành công", Metro Cash & Carry Việt Nam triển khai các dịch vụ mới như giao hàng và tư vấn cho các cửa hàng bán lẻ nhỏ nhằm tăng cường tính hiệu quả và khả năng cạnh tranh cho họ.
Co.opmart đấu giá với Big C
Mặc dù thị trường đang chứng kiến sự xuất hiện của nhiều tập đoàn bán lẻ lớn từ nước ngoài nhưng cạnh trạnh ở kênh siêu thị hiện nay vẫn là cuộc đối đầu giữa Co.opmart và Big C.
Nếu như Big C chọn "Giá rẻ cho mọi nhà” thì Co.opmart làm "Bạn của mọi nhà”. Trong đó, hàng ngàn mặt hàng ở Big C được xem là có giá thấp hơn các siêu thị khác từ 1-3%.
Bà Dương Thị Quỳnh Trang, Giám đốc Đối ngoại Big C, cho rằng: "Việc kinh doanh của Big C nhắm đến chính sách giá tốt nhất cho người tiêu dùng, đi kèm với chất lượng hàng hóa được kiểm soát chặt chẽ và dịch vụ phân phối tiện lợi và hiện đại".
Để triển khai chính sách giá tốt nhất, khuyến mãi là một trong những giải pháp kinh doanh chủ đạo của Big C, vì hiệu quả mang lại và những lợi ich thiết thực nhất cho các bên có liên quan: giá tốt nhất cho khách hàng, gia tăng bán hàng và tăng doanh số cho nhà cung cấp, đồng thời góp phần năng động hóa trong kinh doanh của Big C.
Không xem hàng hóa giá rẻ là cách cạnh tranh nhằm tăng thị phần trên thị trường bán lẻ, nhưng Co.opmart cũng liên kết với các nhà sản xuất để "tinh giảm chi phí, tạo ra giá hợp lý và giá tốt nhất".
Co.opmart đã và đang phối hợp cùng hàng trăm nhà sản xuất, nhà cung cấp để luân phiên thực hiện chương trình "Giá tốt mỗi ngày", tập trung vào thực phẩm tươi sống và nhu yếu phẩm để thiết thực hỗ trợ khách hàng.
Các chuyên gia thương hiệu cho rằng, Co.opmart quá hiểu tâm lý người tiêu dùng Việt Nam và Big C cũng rất am tường thị trường bán lẻ Việt Nam cũng như tập quán mua sắm, thị hiếu khách hàng nên nắm bắt, đón đầu và phục vụ hiệu quả nhu cầu ấy.
Vì thế, mà tỷ lệ hàng nội địa tại hai đơn vị này đều chiếm đến 90 -95% trong cơ cấu hàng hóa. Không những thế, cả Co.opmart và Big C đều tận dụng mọi khả năng có thể để liên kết với các trang trại, các nhà sản xuất, các doanh nghiệp để tăng cường ngày càng nhiều sự hiện diện của hàng Việt.
Đổi mới, sáng tạo trong kinh doanh là yếu tố then chốt để thu hút khách hàng cũng được hai thương hiệu này khai thác triệt để. Tuy nhiên, theo Công ty Nghiên cứu thị trường Kantar Worldpanet, hiện nay, Big C đang dẫn đầu thị trường trong việc xây dựng được hình ảnh giá cả tốt và khuyến mãi hấp dẫn.
Saigon Co.op chiếm thị phần vào khoảng gần 50% với 70 siêu thị Co.opmart dự kiến đến cuối năm 2013.
Cuộc đối đầu giữa hai thương hiệu này bắt đầu khi Big C bước chân vào Việt Nam năm 1998. Sau khi mua lại siêu thị Cora Đồng Nai từ tay một nhà bán lẻ đồng hương Pháp, Big C đã áp dụng chiến lược bán lẻ với mục tiêu cung cấp các sản phẩm chất lượng và giá cao hoặc ngang bằng với Co.opmart.
Các điểm bán sau này của Big C cũng áp dụng chiến lược này nhưng vẫn chưa thể "địch lại" nhà kinh doanh siêu thị 100% Việt Nam là Co.opmart.
Tuy nhiên, do không thể tối ưu hóa được mức chi phí và lợi nhuận dù đã từng thành công với mô hình này ở nhiều nước, nên bắt đầu từ sau 2005, Big C thay đổi toàn bộ chiến lược kinh doanh. Và chiến lược "giá rẻ” đã được triển khai, mang lại thành công cho Big C nhiều năm nay.
Theo Euromonitor, tổng mức chi tiêu của người tiêu dùng tại Việt Nam dự kiến sẽ tăng gấp đôi và đạt xấp xỉ 173 tỷ USD vào năm 2020. Hiện tại, hàng tiêu dùng nhanh vẫn là lợi thế cạnh tranh của cả Co.opmart và Big C.
Tỷ trọng hàng thực phẩm tại Big C lẫn Co.opmart chiếm khoảng 55 - 60% doanh số toàn hệ thống. Cả hai đều khai thác tối đa nhóm ngành hàng thực phẩm tươi sống và nấu chín.
Nếu như Big C có Big C Bakery ở tất cả các siêu thị trong hệ thống thì Co.opmart cũng có Co.op Bakerry ở những siêu thị có mặt bằng rộng. Khu vực kinh doanh thực phẩm tươi sống được mở rộng tại siêu thị của cả hai bên.
Danh sách các mặt hàng từ thủy hải sản, gia súc, gia cầm... chế biến sẵn đang ngày càng dài thêm ở từng siêu thị của mỗi hệ thống. Do "lép vế” về diện tích của từng siêu thị nên Co.opmart khai thác ở mật độ dày đặc của 63 siêu thị trong hệ thống trên toàn quốc.
30 - 35 trung tâm bán sỉ doanh số 12,5 ngàn tỷ đồng
Co.opXtraplus lấn sân Metro
Metro không còn "một mình một chợ" khi kinh doanh bán sỉ đã bắt đầu sôi động hơn với sự xuất hiện của Co.opXtraplus.
Không dừng lại ở mô hình bán lẻ, giờ đây Co.opmart "lấn sân" sang phân khúc bán sỉ với sự ra đời của hai thương hiệu đại siêu thị Co.opXtra và Co.opXtraplus của Saigon Co.op (thương hiệu mẹ của Co.omart). Giữa tháng 5 vừa qua, Co.opXtraplus có diện tích gấp 4-5 lần, lượng hàng hóa cũng gấp 2-3 lần so với siêu thị Co.opmart đã chính thức vận hành.
Để khai thác tốt phân khúc khách hàng này, Co.opmart đã tìm đến NTUC FairPrice - hợp tác xã hàng đầu tại Singapore, được thành lập bởi nguyên Thủ tướng Lý Quang Diệu, hiện chiếm đến khoảng 60% thị trường bán lẻ Singapore.
Co.opXtraPlus có mô hình tương đối giống nhà phân phối đến từ Đức là Metro Cash & Carry. Bởi, không chỉ hướng vào người tiêu dùng cá nhân và hộ gia đình, Co.opXtraPlus còn hướng đến các công ty, xí nghiệp, trường học, nhà hàng, khách sạn...
"Đại siêu thị và các thành viên khác của Saigon Co.op gồm Co.opmart, Co.opFood sẽ tương hỗ nhau dựa vào phân bố về vị trí địa lý, nhu cầu sức mua và đối tượng mua của từng khu vực, cũng như chủng loại hàng hóa được phân bố dựa trên nhu cầu đặc trưng của từng loại hình.
Có sản phẩm có thể tìm thấy ở tất cả các hệ thống bán lẻ vứa đề cập, nhưng sẽ có một sản phẩm, mặt hàng chỉ có thể mua được hoặc ở đại siêu thị, hoặc ở Co.opmart hoặc chỉ có thể ở Co.opFood.
Đối với nội bộ, bản thân các đơn vị thành viên cũng tự tạo áp lực cạnh tranh với nhau nhằm thúc đẩy cùng phát triển", ông Nguyễn Ngọc Hòa, Chủ tịch HĐQT Saigon Co.op cho biết.
Lâu nay, thế mạnh của Co.opmart là bán lẻ, với sự ra đời của Co.opXtraPlus, Saigon Co.op quyết cạnh tranh trong cả trong lĩnh vực bán sỉ lẫn bán lẻ.
Nếu như bán sỉ vốn là "lãnh địa" của Metro Cash & Carry Việt Nam từ hơn chục năm nay thì nay có thêm Co.opXtraPlus. Còn trong lĩnh vực bán lẻ, Saigon Co.op ngoài chuỗi 63 siêu thị Co.opmart, nay gia tăng thêm Co.opXtra sẽ cạnh tranh quyết liệt với Big C.
Vì ngoài việc tiếp tục phát triển chuỗi siêu thị Co.opmart, Co.opFood..., doanh nghiệp này tiếp tục việc phát triển mô hình mới (đại siêu thị, đại siêu thị kết hợp phân phối số lượng lớn). Đây được xem là bước đi cần thiết để Saigon Co.op xác lập vị thế, gia tăng thị phần trên thị trường.
Trước động thái mới của Saigon Co.op, gần đây, Metro Cash & Carry Việt Nam đã triển khai chiến lược kinh doanh mới. Lâu nay, Metro được biết đến là doanh nghiệp cung cấp tất cả các chủng loại mặt hàng tại một địa điểm, nhằm phục vụ tốt nhất các doanh nghiệp độc lập.
Nay, thay vì chỉ tập trung vào các nhóm khách hàng chuyên nghiệp, như khách sạn, nhà hàng, các công ty dịch vụ và cung cấp suất ăn, doanh nghiệp nhỏ và vừa, văn phòng, công sở thì gần đây, doanh nghiệp này mở rộng ra nhóm khách hàng cụ thể, gồm các quán ăn, nhà hàng, các cửa tiệm tạp hóa, bếp ăn tập thể, văn phòng và nhà máy.
Trả lời báo giới cách đây chưa lâu, ông Philippe Bacac, Tổng giám đốc Công ty Metro Cash & Carry Việt Nam, cho biết, ngoài việc tiếp tục cung cấp tới khách hàng nhiều chủng loại mặt hàng thực phẩm và phi thực phẩm đa dạng, giá cả cạnh tranh, với mục tiêu "hỗ trợ khách hàng chuyên nghiệp kinh doanh thành công", Metro Cash & Carry Việt Nam triển khai các dịch vụ mới như giao hàng và tư vấn cho các cửa hàng bán lẻ nhỏ nhằm tăng cường tính hiệu quả và khả năng cạnh tranh cho họ.
Không chỉ vậy, Metro còn mở rộng và đa dạng hóa phân phối với nhiều kênh bán hàng như dịch vụ giao hàng, thanh toán bằng hình thức ghi nợ... như là cách bổ sung quan trọng cho mô hình bán sỉ cash & carry truyền thống.
Nếu so với Co.opXtraplus mới ra đời, Metro đã có thâm niên hơn 12 năm với hệ thống 24 trung tâm trong cả nước. Điều mà các nhà kinh doanh lo ngại là Metro đang có lợi thế từ chính sách ưu đãi từ Chính phủ, đặc biệt là vị trí của các trung tâm phân phối.
Hoạt động dưới hình thức bán sỉ, nhưng nhiều cơ sở Metro Cash & Carry Việt Nam lại nằm rất gần trung tâm các thành phố lớn như ở Đà Nẵng, Buôn Ma Thuột. Nhờ vậy, tập đoàn này đang cạnh tranh trực tiếp với các cửa hàng bán lẻ có giá bán cao hơn.
Điều mà những nhà điều hành Metro Cash & Carry Việt Nam tâm đắc là khi Metro rót hàng trăm triệu USD vào Việt Nam, mô hình kinh doanh bán sỉ toàn cầu từ kinh doanh đến kinh doanh (B2B) của Metro không chỉ phát triển mạnh ở các thành phố lớn như TP.HCM, Hà Nội, Đà Nẵng, Hải Phòng hay Cần Thơ mà còn thích hợp ở những thị trường xa như Khánh Hòa, Bình Định, Đắk Lắk...
Thời gian gần đây, Metro bị "lùm xùm" với chuyện "lách thuế”, "lách luật" để bán lẻ và mới đây là vụ bán cá tầm lậu. Hiện những vụ việc này vẫn chưa có kết luôn điều tra nhưng cũng là lợi thế cho Saigon Co.op khi thâm nhập lĩnh vực mới.
Thường thì cái gì mới cũng khó nhưng Saigon Co.op cho biết không dừng lại ở một Co.opXtraplus mà sẽ xây dựng chuỗi Co.opXtra và Co.opXtraplus với kế hoạch mỗi năm mở 1 - 2 điểm mới để có thể đạt được 20 đại siêu thị trước năm 2020.
21.317 tỷ đồng
Bám đuổi hàng nhãn riêng
Với doanh thu chiếm khoảng 8 - 12% trong tổng doanh thu của chuỗi, hàng nhãn riêng trở thành một lợi thế cạnh tranh của tất cả các nhà phân phối.
Không chỉ cạnh tranh từ chính hàng hóa, giá, khuyến mãi..., các nhà kinh doanh mô hình phân phối hiện đại còn cạnh tranh quyết liệt ở phân khúc hàng nhãn riêng.
Kết hợp với việc phát triển hệ thống phân phối, cả Metro, Big C, Co.opmart đều không ngừng đưa ra thị trường hàng loạt sản phẩm mang thương hiệu riêng, tập trung vào phân khúc hàng tiêu dùng thiết yếu có sức tiêu thụ mạnh như thực phẩm, hóa mỹ phẩm, hàng may mặc...
Với kinh nghiệm từ các thị trường khác trên thế giới, Metro liên tục giới thiệu đến người tiêu dùng Việt Nam hàng loạt nhãn hàng riêng ở rất nhiều ngành hàng, từ thực phẩm, hóa mỹ phẩm đến đồ dùng nhà bếp, văn phòng hay hàng may mặc mang nhãn hiệu Fine Food, Aro, Horica Fine Dreaming, Sigma...
Thị trường Việt Nam hiện có khoảng 130 trung tâm thương mại, 700 siêu thị, hơn 1.000 cửa hàng tiện lợi. Trong đó, ba hệ thống chuỗi lớn nhất là Co.opmart với 63 siêu thị và một đại siêu thị, Big C có 25 đại siêu thị còn Metro có 24 trung tâm. 
Nghiên cứu của Euromonitor dự tính, quy mô toàn thị trường bán lẻ Việt Nam sẽ đạt xấp xỉ 34 tỷ USD vào năm 2016. Năm 2011, tổng quy mô thị trường bán lẻ thực của Việt Nam là 29 tỷ USD.
Trước đó, ngay từ năm 1998, khi đặt chân vào Việt Nam bằng việc mua lại một siêu thị của Pháp là Cora, tính đến nay, ở cả ba phân khúc hàng cao cấp Casino, trung bình Big C và giá rẻ WOW đều được Big C khai thác tốt với hơn 2.500 mặt hàng.
Trong đó, hàng Casino được Big C nhập trực tiếp từ tập đoàn mẹ, ba nhãn hàng Big C, WOW và eBon được doanh nghiệp này khai thác tại Việt Nam.
Nhóm mặt hàng Bakery Big C đã được đơn vị này khai thác thành công mà nhiều năm nay, nói đến Big C người ta nhớ ngay đến "bánh mì Pháp".
Nhắm thấy đây là xu thế tất yếu của thị trường, bắt đầu từ năm 2004, Co.opmart khai thác phân khúc mặt hàng này. Do đi sau, nên Co.opmart chọn hướng giá rẻ, chất lượng phù hợp với người tiêu dùng.
Nhà bán lẻ này đã thành lập một phòng chuyên nghiên cứu và phát triển nhãn hàng riêng, thay vì chỉ có một bộ phận nhỏ thuộc phòng kinh doanh như trước đây. Bên cạnh đó, Co.opmart còn mời chuyên gia tư vấn để phát triển một cách bài bản dòng hàng này.
Hiện có khoảng 200 mặt hàng nhãn riêng tập trung vào nhóm thực phẩm tươi sống - chế biến, thực phẩm công nghệ, hóa phẩm, may mặc, như gạo, nước mắm, bún gạo, trà, trứng, bánh tráng, thịt nguội, giò lụa, đồ hộp, hóa phẩm, đồ dùng trong nhà, quần áo...
Theo chia sẻ của một chuyên gia thương hiệu, những nhãn hàng riêng thành công nhất thường thuộc các ngành hàng như bột giặt, nước rửa chén, nước rau nhà, khăn giấy, giấy vệ sinh... đây là những ngành hàng mà người tiêu dùng không khó tính lắm về chất lượng và có xu hướng chọn sản phẩm giá rẻ.
Theo kết quả điều tra của Công ty Nghiên cứu thị trường Nielsen, hàng nhãn riêng của các nhà bán lẻ tại Việt Nam được nhiều người tiêu dùng quan tâm, nhận biết.
Về mức độ quan tâm của người tiêu dùng, hàng nhãn riêng thương hiệu Co.opmart của Liên Co.opmart dẫn đầu với 28%, xếp thứ hai là nhãn hàng Wow của BigC với 25%. Kế đến là nhãn hàng đồ nguội eBon (BigC) và một số nhãn hàng của Metro.
Dù cạnh tranh quyết liệt trong mọi mặt nhưng bà Dương Thị Quỳnh Trang, Giám đốc Đối ngoại Big C, cho rằng, cạnh tranh lành mạnh là chất xúc tác để các nhà bán lẻ đầu tư đổi mới và chuyên nghiệp hóa hơn nữa dịch vụ phân phối của mình để chinh phục khách hàng, qua đó sẽ góp phần đưa thị trường bán lẻ Việt Nam phát triển cao hơn, chuyên nghiệp hơn và phục vụ hiệu quả hơn nữa người tiêu dùng. Việc thị trường cạnh tranh hơn cũng góp phần khẳng định sự hấp dẫn và tiềm năng của thị trường bán lẻ Việt Nam.

Cùng xem Toyota khẳng định vị trí số 1

Tuy nhiên, ở phân khúc xe du lịch, trong tháng 7, thông tin đáng quan tâm nhất lại là việc Toyota quyết định tăng giá bán xe từ ngày 1/8/2013 với lí do biến động tỷ giá USD/VND. Nhưng xem ra, thông tin này chỉ gây xáo trộn trong thời gian ngắn và xem ra không ảnh hưởng đến “niềm tin” của người tiêu dùng với thương hiệu Nhật Bản này.
Toyota giữ vững vị trí của mình tại Việt Nam, bất chấp sự biến động của thị trường
Đây là tháng thứ 3 liên tiếp thành viên Hiệp hội các nhà sản xuất ôtô Việt Nam (VAMA) duy trì số lượng xe bán ra ở mức trên 8.200 xe, và kỳ vọng sẽ có chuyển biến tích cực trong tháng 8 này.

Việc phí trước bạ giảm xuống còn 12% đối với xe ôtô đăng ký lần đầu có hiệu lực từ ngày 12/7/2013 tại Hà Nội - một trong hai thị trường ôtô lớn nhất cả nước - sẽ là lí do chính để các thành viên VAMA hy vọng là tháng khởi đầu cho mùa bán xe cuối năm.
Niềm kỳ vọng này thể hiện qua dự doán của các nhà sản xuất cho toàn thị trường Việt Nam trong năm 2013 sẽ đạt khoảng 112.000 xe, cao hơn mức dự đoán trước đó hơn 2.000 xe.

Trong tháng 7/2013, các thành viên VAMA đã bán ra 8.209 xe, thấp hơn so với mức 8.239 chiếc của tháng trước một chút, nhưng so với cùng kỳ năm ngoái thì đã tăng hơn 18%; trong đó, lượng xe con tang 25% và xe tải tăng 13%.
Điều này cho thấy, nhu cầu về xe con vẫn đang tăng dần đều trong hơn một năm trở lại đây, bất chấp những biến động về chính sách quản lí, phí trước bạ, dự thảo lệ phí đường bộ…

Trong khi đó, nếu tính gộp một số thương hiệu nhập khẩu chính hãng tại Việt Nam như Audi, BMW... số lượng xe bán ra trong tháng 7 tại thị trường Việt Nam là 9.360 xe, gồm: 3.959 xe con và 5.401 xe tải.

Doanh số cụ thể của các dòng xe mà các thành viên VAMA bán ra trong tháng 7/2013:
(*) Đã bao gồm 160 xe bán ra trong tháng 7 của Mercedes-Benz Việt Nam (MBV)
Ở phân khúc xe du lịch, trong tháng 7 vừa qua, thị trường Việt Nam đón nhận hai mẫu xe sang mới của Mercedes-Benz là E-class 2014 và S550. BMW - thương hiệu xe sang nhập khẩu nguyên chiếc tại thị trường Việt Nam và chưa phải thành viên VAMA - đã chính thức ra mắt mẫu coupé thể thao Z4.
Tuy nhiên, ở phân khúc xe du lịch, trong tháng 7, thông tin đáng quan tâm nhất lại là việc Toyota quyết định tăng giá bán xe từ ngày 1/8/2013 với lí do biến động tỷ giá USD/VND. Nhưng xem ra, thông tin này chỉ gây xáo trộn trong thời gian ngắn và xem ra không ảnh hưởng đến “niềm tin” của người tiêu dùng với thương hiệu Nhật Bản này.

Trong số những mẫu xe du lịch bán nhiều nhất trong tháng 7/2013, Toyota và KIA vẫn là hai thương hiệu thống trị Top 5.

5 mẫu xe du lịch bán nhiều nhất trong tháng 7/2013 của thành viên VAMA:
Toyota không chỉ đang thống lĩnh phân khúc xe du lịch mà còn cả phân khúc MPV-SUV tại thị trường Việt Nam, với hai mẫu Innova và Fortuner thường trực trong danh sách những mẫu xe bán chạy nhất các tháng. “Miếng bánh” còn lại đang có sự cạnh tranh quyết liệt giữa Ford, Mazda và KIA.
5 vị trí dẫn đầu phân khúc MPV và SUV trong tháng 7/2013:
Tháng 7 vừa qua, Toyota Việt Nam và Thaco - doanh nghiệp quản lí nhãn hiệu xe du lịch KIA cùng các dòng xe tải, xe chuyên dung - vẫn duy trì vị trí đứng đầu trong bảng tổng hợp số liệu trong tháng 7. Trong khi đó, với bất ngờ về doanh số của dòng crossover Escape (85 xe) và SUV Everest (167 xe) cũng như sự ổn định của các mẫu xe trong dự án One Ford đã khiến thương hiệu này tiếp tục có kết quả kinh doanh khả quan, mà theo đánh giá là tốt nhất trong năm 2013 này.

Doanh số tháng 7/2013 của các thành viên VAMA: